Máy và công nghệ – Máy công nghệ - Máy và công nghệ Đức Minh

 

Công nghệ chiết xuất tinh dầu hoa nhài

Ở nước ta, cây nhài được đánh giá là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Hoa nhài là nguyên liệu chủ yếu dùng trong công nghệ ướp hương chế biến chè. Tuy nhiên, do thời gian thu hoạch của hoa nhài và cây chè trái ngược nhau nên việc sử dụng hoa nhài cho công nghệ ướp chè đã gặp phải những khó khăn nhất định. Để khắc phục những khó khăn về thời vụ và nâng cao hiệu quả của cây nhài ở nước ta, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giải pháp kỹ thuật về công nghệ và thiết bị công nghiệp để chiết xuất tinh dầu hoa nhài phục vụ cho kỹ nghệ ướp chè. Giải pháp này nhằm kích thích người dân phát triển trồng nhài đại trà ở nước ta, đồng thời góp phần phát triển ngành sản xuất tinh dầu nói chung và tinh dầu hoa nhài nói riêng. Công trình nghiên cứu này đã vinh dự được nhận giải khuyến khích VIFOTEC 2003.

Nội dung thứ nhất của giải pháp là tìm ra phương pháp chiết xuất tinh dầu hoa nhài tự nhiên với hiệu suất trích ly cao, giữ được mùi thơm đặc trưng của hoa nhài tươi.

Nội dung thứ hai của giải pháp là nghiên cứu chế tạo thiết bị công nghệ để chiết xuất tinh dầu hoa nhài với hiệu suất trích ly cao, giữ được mùi thơm đặc trưng của hoa nhài tự nhiên, đảm bảo độ tinh khiết của tinh dầu được chiết xuất, giảm chi phí sản xuất.


Hoa nhài Sambac

Để giải pháp kỹ thuật trên không chỉ dừng lại ở mức độ phòng thí nghiệm mà được đưa vào sản xuất thực tiễn, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm nguồn nguyên liệu dung môi thô có sẵn trong nước để phục vụ cho việc sản xuất, tránh sử dụng dung môi ngoại nhập giá cao và nghiên cứu chế tạo các thiết bị công nghiệp phù hợp cho việc sản xuất tinh dầu hoa nhài, đặc biệt cho giống nhài Sambac ở nước ta.

Hiện nay trên thế giới đã sử dụng một số phương pháp để chiết xuất tinh dầu từ hoa như: Tại Pháp, Bungari, người ta đã sử dụng dung môi khó bay hơi (như mỡ bò đã xử lý tạp chất) để hấp thụ hương hoa. Nhược điểm của phương pháp này là công đoạn tách hương ra khỏi dung môi tiến hành ở nhiệt độ cao, do đó các cấu tử hương dễ bị phân hủy, khả năng tách không hoàn toàn. Ngoài ra, lại còn tốn rất nhiều diện tích để lắp đặt thiết bị.

Phương pháp lôi cuốn bằng hơi nước sử dụng hơi nước bốc lên từ lò nấu cho đi qua khay đựng hoa nhằm lôi cuốn hương quyện theo hơi nước, sau đó tách hương hoa (tinh dầu) ra khỏi hơi nước bằng phương pháp chưng cất. Nhược điểm của phương pháp này là hàm lượng tinh dầu không cao, tinh dầu không có mùi đặc trưng của hoa tự nhiên do nhiệt độ sôi của nước cao hơn nhiều so với phân đoạn nhiệt độ cấu tử của hoa.

Phương pháp tẩm trích với dung môi ete dầu hỏa có nhược điểm là hương lôi cuốn không hoàn toàn do dải nhiệt độ sôi của ete quá rộng, dao động từ 30oC đến 90oC nên việc tách dung môi ra khỏi tinh dầu sẽ gặp khó khăn, các thiết bị điều khiển nhiệt trong hệ thống khó lập trình do dải nhiệt độ sôi quá rộng.

Ở Việt Nam, phương pháp chiết xuất tinh dầu hoà nhài đã được các nhà nghiên cứu thực hiện như sau:


Cây lá chè

Hoa nhài và dung môi được đưa vào bình phản ứng với tỷ lệ một phần hoa và ba phần dung môi. Hỗn hợp hoa và dung môi được khuấy trộn liên tục trong thời gian từ 12 giờ đến 32 giờ (tùy theo công suất và mùa vụ) ở nhiệt độ 30 - 32oC. Nhờ áp lực khuấy trộn, các tế bào chứa tinh dầu sẽ bị phá vỡ và hòa tan trong dung môi tạo thành dịch trích. Sau quá trình chưng cất phân đoạn dưới áp suất thấp để tách dung môi ra khỏi tinh dầu sẽ thu được tinh dầu thô (sáp hoa). Sáp hoa được hòa tan trong etanol. Sau khi tiến hành lọc và chưng cất ở áp suất thấp để tách etanol ra khỏi tinh dầu, sẽ thu được tinh dầu hoa nhài tinh khiết.

Để đáp ứng nhu cầu sản xuất phù hợp với điều kiện hiện có của Việt Nam các nhà nghiên cứu đã thiết kể, chế tạo thiết bị công nghiệp có công suất 0,5 tấn hoa/ mẻ. Các thiết bị (bao gồm thiết bị đảo trộn hoa, hệ thống chưng cất ở áp suất thấp, hệ thống sinh hàn làm lạnh...) được thiết kế theo phương pháp liên tục, khép kín. Hệ thống thiết kế theo phương pháp này đảm bảo tối đa sự phân hủy của các cấu tử có trong tinh dầu hoa nhài, nhằm giữ được mùi hương tự nhiên của hoa.

Phương pháp chiết xuất tinh dầu hoa nhài tự nhiên đạt hiệu suất trích ly cao trên 99% và giữ được mùi thơm đặc trưng của hoa nhài tươi. Phương pháp này đã được thử nghiệm thành công trên các sản phẩm chè ướp hương nhài và đã được ứng dụng vào sản xuất thực tiễn, mang lại lợi ích cho xã hội. Đồng thời cũng là niềm khích lệ cho ngườ dân mở rộng thêm diện tích trồng nhài ở nước ta.

( Theo Tổng công ty hoá chất Việt Nam)

 

 

Công nghệ sấy chè mới

Đề tài "Nghiên cứu cải tiến lò cung cấp nhiệt cho máy sấy và hệ thống hút bụi cho các nhà máy chế biến chè đen" đã thành công và đem lại hiệu quả thiết thực.

Đề tài trên do nhóm nghiên cứu thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn chè Hưng Hà phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ thực hiện từ tháng 6/2009.

Việc nghiên cứu nhằm tạo ra hệ thống thiết bị tiên tiến trong nước, giảm giá thành sản phẩm trong sản xuất, giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện làm việc của lao động, đồng thời đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu sản phẩm để xuất khẩu ra nước ngoài.

Sau khi nghiên cứu và phân tích ưu, nhược điểm của lò sấy cung cấp nhiệt cho máy sấy và hệ thống hút bụi cho các nhà máy chế biến chè đen, đề tài đã lắp đặt và vận hành thử tại Công ty trách nhiệm hữu hạn chè Hưng Hà, trụ sở tại thị trấn huyện Thanh Ba.

Kết quả, hệ thống lò cung cấp nhiệt chạy ổn định, không ồn, sửa chữa và thay thế đơn giản; tiết kiệm than; giảm nhân công vận hành hệ thống; chè sau khi được sấy đã giữ được hương thơm đặc trưng.

Hệ thống hút bụi làm việc liên tục nên giảm chi phí lao động, máy chạy êm, mức tiêu hao điện năng thấp, khả năng dập bụi cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Lò cung cấp nhiệt trước khi cải tiến có chi phí sấy là hơn 3 triệu đồng/1 tấn sản phẩm, sau khi cải tiến đã tiết kiệm được hơn 300 ngàn đồng/1 tấn sản phẩm. Hệ thống hút bụi trước khi cải tiến có chi phí 500 nghìn đồng/1 ca làm việc, sau khi cải tiến hệ thống đã tiết kiệm được hơn 300 nghìn đồng/1 ca làm việc...

Hệ thống lò cung cấp nhiệt cho máy sấy với công dụng làm nóng không khí đến nhiệt độ cần thiết để cấp nhiệt cho máy sấy và hệ thống hút bụi với công dụng thu hút bụi từ các máy phân loại phát ra trở về phòng dập bụi và bụi được lắng xuống.

Theo đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, đề tài có khả năng nhân rộng và ứng dụng trong thực tế sản xuất.

Nguồn Hoahocngaynay/Vietnam+

 

Công nghệ sấy lạnh hoa quả.

Nhóm nghiên cứu ở Hà Nội đã tìm ra phương pháp sấy thích hợp nhất đối với các loại nông sản thực phẩm ở Bắc Giang: Phương pháp sấy lạnh – hay sấy dùng nhiệt độ thấp. Đây là đề tài Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sấy nhiệt độ thấp để bảo quản và chế biến nông sản, thực phẩm do trường đại học Bách khoa Hà Nội chủ trì.

Nông sản được bảo quản bằng công nghệ sấy lạnh sẽ giữ nguyên được màu sắc, mùi vị. Ảnh minh họa.

Phương pháp này được thực hiện bằng cách giảm độ ẩm tương đối trong không khí để tạo ra sự chênh lệch áp suất giữa hơi nước trong không khí và hơi nước trong nông sản, thực phẩm. Bằng cách này độ ẩm sẽ tách ra khỏi nông sản, thực phẩm, và đi vào không khí. Khi làm lạnh không khí trong thiết bị trao đổi nhiệt xuống thấp hơn nhiệt độ đọng sương, không khí bão hoà ẩm sẽ ngưng đọng và tách ra khỏi không khí. Không khí sau đó đi qua dàn nóng sẽ sấy khô nông sản, thực phẩm.

Ưu điểm của công nghệ này sấy lạnh là có thể xây dựng được từng quy trình công nghệ sấy hợp lý đối với từng loại rau, củ, quả. Sau khi sấy, nông sản, thực phẩm giữ được nguyên màu sắc, mùi vị, thành phần dinh dưỡng thất thoát không đáng kể (khoảng 5%), đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam và các chỉ tiêu kỹ thuật, chất lượng sản phẩm tương đương của Thái Lan và một số nước khác trên thế giới.

Tỉnh Bắc Giang đã nghiệm thu công trình nghiên cứu sấy lạnh. Công nghệ này sẽ được chuyển giao cho các công ty chế biến nông sản thực phẩm lớn ở tỉnh Bắc Giang. Bắc Giang là tỉnh có vùng trồng vải thiều lớn nhất cả nước; sản lượng các loại rau, củ, quả như rau đậu, lạc, đậu tương, vải thiều, na, cây có múi lên tới hơn 467.000 tấn mỗi năm cần được bảo quản, chế biến tốt mới đảm bảo được đầu ra tiêu thụ ổn định và bán được giá.

(Theo SGTT)

 

Máy lọc nước Nano

MÁY LỌC NƯỚC DÙNG CỘNG NGHỆ NANO CỦA NGA

Máy lọc nước dùng công nghệ nano do các nhà khoa học Nga phát minh có kết cấu gọn nhẹ không chỉ thích hợp cho thành phố mà còn ở các vùng nông thôn, miền núi thường sử dụng nước giếng khoan.

Vật liệu nano Aquavalis và UCVR sử dụng trong các máy lọc nước công nghệ nano do Viện Hàn lâm Khoa học Nga phát minh từ năm 1998. Đến năm 2001, công nghệ hoàn thiện và được cấp phép sản xuất hàng loạt tại Nga từ năm 2005. Ngay sau khi đưa ra thị trường, loại sản phẩm này đã được Chính phủ Nga, đứng đầu là Thủ tướng Putin (khi đó còn là Tổng thống) đánh giá cao và công nhận là máy lọc nước tốt nhất trong chương trình nước sạch quốc gia.

Để máy lọc nước công nghệ nano hoạt động chỉ cần áp lực nước do một nguồn nước ở trên cao tạo ra, không sử dụng điện và máy bơm nước, do đó vừa tiết kiệm điện vừa không có tiếng ồn của động cơ. Các sản phẩm này phù hợp và dễ sử dụng đối với các vùng thường xuyên bị lũ lụt không có điện và nước sạch để ăn uống.

Sản phẩm máy lọc nước nano của Sunny-Eco. Ảnh: Sunny-Eco

Nước sau khi lọc từ các máy lọc nước công nghệ nano vô trùng vì vật liệu nano Aquavalis và UCVR hấp thụ và tiêu diệt tất cả các vi khuẩn. Điều này đã được Nhà nước Nga kiểm chứng và cấp phép. Hiệu suất của các máy lọc nước công nghệ nano là 100% nước vô trùng và không có nước thải, do đó máy thân thiện với môi trường tiết kiệm nước.

Đặc biệt, loại máy lọc nước công nghệ nano này cho nước sạch vô trùng nhưng vẫn giữ được các khoáng chất và các nguyên tố vi lượng tự nhiên hòa tan cần thiết cho cơ thể con người.

Công ty cổ phần Công nghệ Sinh thái Ánh Dương (Sunny-Eco JSC) là đại diện độc quyền sản xuất và phân phối các máy lọc nước công nghệ nano của Nga ở Đông Nam Á. Ngoài các máy lọc nước công nghệ nano quy mô nhỏ dùng trong các hộ gia đình, Sunny-Eco JSC đã nghiên cứu và sản xuất các máy lọc nước công nghệ nano công suất lớn phù hợp với môi trường nước ở Việt Nam dùng cho các trường học, bệnh viện, cơ sở y tế và cho các công ty sản xuất nước uống đóng chai.

Tháng 10/2009, Sunny-Eco JSC và IWE đã cùng ký một văn bản thỏa thuận với Trung tâm nano thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Bang Nga về việc sẽ sản xuất lõi lọc vật liệu nano Aquavalis và UCVR tại Việt Nam.

(theo vnexpress.net)

 

Danh mục sản phẩm

Tin tức - Sự kiện



Khách đang xem Website

Có 36 khách Trực tuyến